MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................2 1. Lý do chọn biện pháp ....................................................................................2 2. Mục đích nghiên cứu .....................................................................................3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................................3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................3 5. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU........................................................................3 1. Cơ sở lí luận ...................................................................................................3 2. Cơ sở thực tiễn...............................................................................................4 3. Các biện pháp................................................................................................6 3. 1. Phát triển năng lực tự làm giàu vốn từ cho học sinh................................6 3. 2. Rèn kĩ năng “Nảy từ”- đặt câu văn hay....................................................7 3. 3. Rèn kĩ năng viết đoạn văn Hamburger......................................................9 3. 4. Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý......................................................................13 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG ...................................................................17 1. Kết quả.........................................................................................................17 2. Ứng dụng......................................................................................................18 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................18 1. Kết luận ........................................................................................................18 2. Kiến nghị......................................................................................................19 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................21 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin. Ngay từ nhỏ, các em học sinh đã được tiếp xúc với các kênh thông tin, các ứng dụng và các nền tảng mạng xã hội rất hấp dẫn trên các thiết bị điện tử như tivi, điện thoại, ipad, Bên cạnh những lợi ích mà các em nhận được thì nó cũng mang lại cho các em nhiều tác động tiêu cực. Các em dành nhiều thời gian cho các hoạt động giải trí hiện đại như: xem hoạt hình, chơi game, lướt tiktok... Từ đó, khả năng đọc hiểu và cảm thụ văn học của các em cũng giảm; vốn từ của các em cũng hạn chế nên các em gặp khó khăn trong việc tìm từ để nói - viết theo các chủ đề. Trong chương trình Tiểu học hiện nay, mục tiêu chính của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Tập làm văn là một phân môn thực hành của môn Tiếng Việt ở Tiểu học, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình. Thực hiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sinh sản văn bản ở dạng nói hay viết, phân môn Tập làm văn đồng thời góp phần cùng các môn học khác rèn luyện về tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh. Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy học sinh lớp 3 tôi chủ nhiệm nhiều em còn lúng túng khi làm văn, đoạn văn hình thức chưa đạt, nội dung chưa đảm bảo, thiếu logic, còn mắc nhiều lỗi về câu. Bài viết thường bị lặp từ ngữ, thiếu đi sự phong phú đa dạng về cái hay cái đẹp của sự vật. Dường như với các em, viết văn đúng đã khó chứ chưa nói đến viết văn hay. Từ thực tế đó, tôi luôn băn khoăn và trăn trở: Làm thế nào để giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học, cũng như khả năng viết đoạn văn hoàn chỉnh cho học sinh. Đây cũng là lý do tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp “ Nâng cao năng lực tư duy, rèn kĩ năng viết đoạn văn hay cho học sinh lớp 3”. 3 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài nhằm mục đích đưa ra biện pháp giúp nâng cao hứng thú, tính tích cực và phát huy tối đa các năng lực, khả năng sáng tạo, các kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn cho học sinh. Học sinh viết được đoạn văn hoàn chỉnh, đúng yêu cầu và giàu hình ảnh. Nâng cao hiệu quả giờ dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 3. Góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt và các môn học khác. Bồi dưỡng cho học sinh niềm yêu thích học văn. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu nội dung chương trình môn học và các phương pháp dạy học hiện đại giúp học sinh phát triển năng lực tư duy ngôn ngữ và kĩ năng viết đoạn văn. Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng dạy và học Tập làm văn lớp 3. Từ đó, xây dựng biện pháp và áp dụng vào giảng dạy thực tế. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn lớp 3. Các phương pháp, hình thức nâng cao năng lực tư duy và rèn các kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh. - Học sinh khối lớp 3 trong trường Tiểu học. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp điều tra, khảo sát - Phương pháp quan sát - Phương pháp luyện tập, thực hành - Phương pháp đàm thoại II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học là môn học rất quan trọng đối với học sinh bởi đây là môn học cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết giúp các em phát triển ngôn ngữ trong giao tiếp. Nó còn là công cụ giúp các 4 em phát triển toàn diện, hình thành ở các em những cơ sở của thế giới khoa học, góp phần rèn luyện trí thông minh, hình thành tình cảm, thói quen đạo đức tốt đẹp của con người mới. Dạy học Tiếng Việt cho học sinh được thể hiện qua các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện và Tập làm văn. Trong đó Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp về kiến thức cũng như kỹ năng của các phân môn còn lại. Đặc biệt đối với học sinh lớp 3, bài Tập làm văn của các em là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếp thu được trong quá trình học tập. Tập làm văn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, luyện tư duy logic, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành nhân cách của học sinh Việc dạy viết đoạn văn là một nội dung trọng tâm trong chương trình Tập làm văn lớp 3. Mặc dù yêu cầu viết văn ở lớp 3 chỉ dừng lại là viết đoạn văn nhưng với các em học sinh đây là một yêu cầu khá khó. Bởi lẽ, để học sinh viết được đoạn văn đạt yêu cầu, ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế, kĩ năng viết phải trôi chảy, lưu loát rõ ràng để người đọc hiểu được nội dung mình cần viết. 2. Cơ sở thực tiễn Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy thực trạng của việc dạy và học phân môn Tập làm văn như sau: Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên thường dựa vào hướng dẫn trong sách giáo viên hoặc sách thiết kế để tổ chức giờ dạy nên các giờ dạy thường có tiến trình giống nhau, lặp đi lặp lại dẫn đến không tạo được hứng thú cho học sinh trong giờ học. Đa phần giáo viên khi giảng dạy thường giới hạn với các câu hỏi trong sách giáo khoa chứ thực sự đầu tư vào chất lượng bài soạn. Giáo viên chưa đi sâu vào khai thác nội dung bài để đưa ra được một hệ thống các câu hỏi gợi mở giúp học sinh phát huy được hết khả năng ngôn ngữ và sáng tạo của mình. Chính vì thế, bài làm của các em thường chỉ mang tính chất trả lời câu hỏi. 5 Các em khá lúng túng khi diễn đạt, cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn còn ý còn nghèo nàn. Các hoạt động trong giờ dạy Tập làm văn còn đơn điệu, giáo viên chưa vận dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học khác nhau vào giờ học mà thường áp dụng phương pháp truyền thống như quan sát, hỏi - đáp. Các em thường cảm thấy đây là một phân môn khó, nhiều em còn ngại học, lười suy nghĩ và viết bài qua loa cho xong chuyện. Về phía học sinh, vốn từ vựng của các em còn hạn chế, khả năng diễn đạt chưa tốt. Nguyên nhân xuất phát từ việc các em học sinh ngại đọc để trau dồi vốn từ và nếu có đọc thì cũng thường đọc truyện tranh có câu văn ngắn gọn, từ ngữ đơn giản, diễn đạt chưa đủ ý. Thêm nữa, xã hội ngày càng phát triển thì việc giao tiếp giữa các em với các thành viên trong gia đình ngày càng ít đi. Trong quá trình học Tập làm văn ở lớp 3, các em gặp nhiều khó khăn trong việc tư duy ngôn ngữ và thực hành các kĩ năng viết đoạn văn hoàn chỉnh. Kết quả làm văn của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của môn học. Năm học 2021 – 2022, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3A2. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tiến hành khảo sát, đánh giá khả năng viết đoạn văn của học sinh lớp mình và thu được kết quả như sau: Kết quả đạt được Nội dung khảo sát với 44 học sinh SL % Học sinh biết viết câu văn đủ ý, dùng từ 24 54,5 hợp lí, biết triển khai đoạn văn Học sinh viết hay, trình bày mạch lạc 12 27,2 Học sinh viết được đoạn văn hoàn chỉnh, có sử dụng từ ngữ, hình ảnh so sánh, 7 15,9 nhân hóa Học sinh biết viết đoạn văn nhưng còn sơ 14 31,8 sài vì vốn từ chưa phong phú. Học sinh chưa biết triển khai đoạn văn 6 13,6 6 Trước thực trạng nêu trên, bản thân tôi tự nhận thấy mình cần phải nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra được biện pháp giúp giờ dạy Tập làm văn của mình đạt hiệu quả cao hơn, khơi gợi được hứng thú, phát triển được năng lực tư duy ngôn ngữ và kĩ năng làm văn của từng học sinh. 3. Các biện pháp 3.1. Phát triển năng lực tự làm giàu vốn từ cho học sinh: Quá trình dạy học ngôn ngữ nói chung đều đi theo một quy trình đó là “ từ - câu - đoạn - bài”. Muốn có được câu văn hay, đoạn văn hay thì các em phải có vốn từ phong phú. Ngoài vốn từ các em có được qua cuộc sống thường ngày để giao tiếp cơ bản và qua các giờ Tập đọc, giờ Luyện từ và câu trên lớp thì việc rèn cho các em năng lực tự làm giàu vốn từ là vô cùng cần thiết. Để phát triển năng lực này, tôi đã thực hiện như sau: - Hướng dẫn học sinh phương pháp tự làm giàu vốn từ: Giáo viên giao việc cho học sinh ở các giờ Tập đọc và Luyện từ và câu. Yêu cầu các em đọc trước bài ở nhà và tìm hiểu nghĩa của các từ mới sau đó ghi nhớ. Khuyến khích các em có một cuốn sổ tay để ghi lại nghĩa của từ mình tìm hiểu được. - Xây dựng văn hóa đọc cho học sinh: Giáo viên giao nhiệm vụ cho các em mỗi tuần tìm đọc ít nhất một cuốn sách hay và cuối tuần sẽ chia sẻ về cuốn sách của mình đã đọc cho các bạn trong lớp. Khuyến khích học sinh thường xuyên mượn sách, truyện ở thư viện và đọc vào thời gian rảnh rỗi. Động viên học sinh trao đổi, chia sẻ sách, truyện với nhau. Xây dựng thư viện lớp để các em có thể đọc vào đầu giờ hoặc các giờ ra chơi. Hàng tháng, giáo viên sẽ tuyên dương, khen thưởng bạn nào chia sẻ được nhiều sách, truyện bằng các hình thức như tặng sao, thư khen, 7 Học sinh trong hoạt động đọc tập thể giờ truy bài - Phối hợp với phụ huynh trong việc mở rộng vốn từ cho học sinh: Ngay từ đầu năm học, tôi đã tuyên truyền để phụ huynh nắm rõ vai trò quan trọng của môi trường giáo dục trong gia đình. Đặc biệt là vai trò của việc đồng hành cùng con trong suốt quá trình học tập. Từ đó, cha mẹ nắm được ý nghĩa của việc giao tiếp giữa bố mẹ và con cái để các em phát triển ngôn ngữ. Bên cạnh đó, bố mẹ cần tạo điều kiện cho các em tiếp cận nguồn sách, báo bằng cách đưa các em tới thư viện, nhà sách để các em được tìm đọc những cuốn sách hay góp phần làm cho vốn từ của các con trở nên phong phú hơn. Giáo viên thường xuyên trao đổi về việc học của các con với bố mẹ qua điện thoại, zalo để phụ huynh nắm được và hỗ trợ kịp thời. Sau một thời gian thực hiện như vậy thì vốn từ của các em tăng lên và năng lực ngôn ngữ cũng được cải thiện rõ nét. 3.2. Rèn kĩ năng “Nảy từ”- đặt câu văn hay Để có một đoạn văn hay, học sinh cần biết viết được câu văn hay. Câu văn hay là câu văn có hình ảnh, màu sắc, đường nét, hình khối, .giúp cho 8 người đọc hình dung được một cách rõ nét điều mà mình đang nói đến.Vì thế, tôi đã chú trọng mở rộng vốn từ cho học sinh trong các tiết tập đọc. Tôi thường đặt ra câu hỏi như: + Từ nào con thấy hay trong câu văn này? + Con thích nhất hình ảnh nào trong bài thơ này? + Con hãy đặt câu với từ( cụm từ) mà mình thích? - Tôi còn thiết lập các bài quiz, các trò chơi vui nhộn trên các trang công cụ như nearpod, quizz để học sinh có thể vào ôn luyện về từ và câu khi các con ở nhà. Nhờ vậy mà các con nhớ được các từ hay, câu văn hay. * Ví dụ: Câu hỏi củng cố vốn từ sau các bài tập đọc: 9 Từ vốn từ các con học được trong quá trình tích lũy, tôi tích cực cho học sinh luyện viết câu trong các giờ Luyện từ và câu. Một câu văn hay là câu văn có thêm các thành phần bổ trợ như: bộ phận chỉ thời gian, nơi chốn, từ tượng thanh, tượng hình, các biện pháp so sánh, nhân hóa. Tôi đã đưa cho các con công thức để viết được câu văn hay: * Ai (cái gì, con gì)+đang(đã, sẽ) làm gì+Ở đâu(Khi nào/Vì sao/Để làm gì)? Các thành phần trong công thức có thể thay đổi một cách linh hoạt để câu văn đa dạng, sinh động hơn. Câu văn được mở rộng theo công thức: Khi học sinh đọc câu văn của mình tôi thường hỏi: Còn gì nữa không? Hoặc Con có thể viết thêm được không? * Nhờ kĩ thuật này mà các con viết được câu văn hay hơn, giàu cảm xúc hơn. 3. 3. Rèn kĩ năng viết đoạn văn “Hamburger” Một đoạn văn hay thì phải được trình bày một cách mạch lạc. Viết đoạn văn cần có câu mở đoạn để giới thiệu nội dung trong đoạn văn, hết phần kể phải có câu kết thúc. Để hướng dẫn cho học sinh dễ hiểu nhất cấu trúc đầy đủ của một đoạn văn, tôi sử dụng hình thức đoạn văn hamburger. 10 Đoạn văn hamburger – sườn bài văn hoàn chỉnh. Một đoạn văn chuẩn giống như một chiếc bánh hamburger vậy. * Câu chủ đề như một miếng bánh mì thơm ngon, khi nó đủ hấp dẫn chắc chắn người đọc sẽ không cưỡng lại được sự tò mò mà bước vào tìm hiểu. Cũng giống như phần bánh mì trên cùng, câu chủ đề nên chỉ ra được ý chính của đoạn văn. Không nên có thêm bất kì chi tiết nào trong câu chủ đề, như phần bánh trên cùng của chiếc hamburger, chỉ đơn giản là một nửa cái bánh mì. Ví dụ: Viết lại buổi đầu em đi học thành một đoạn văn ngắn. Tùy theo trình độ của từng học sinh mà các em có thể viết câu chủ đề như: - Trong cuộc đời mỗi người, chắc sẽ chẳng ai quên kỉ niệm ngày đầu tiên đi học. - Đã hơn hai năm rồi mà hình ảnh của buổi đi học đầu tiên không phai mờ trong kí tức của em. - Khi thu về, tiếng trống khai trường vang lên, cũng là lúc chúng em quay trở lại trường học. Em còn nhớ như in những kỉ niệm về ngày đầu tiên 11 Do chú trọng khâu này, những em yếu, trung bình khi làm bài đã đúng trọng tâm nên tôi đã khắc phục được tình trạng lạc đề hoặc làm bài dàn trải của học sinh. Nguyên liệu chính (những lớp rau, thịt) nằm giữa cái hamburger và được gọi là những câu khai triển của đoạn văn. Những câu này (thường là 3 hay 4 câu đối với em trung bình yếu, hơn 5 đến 7 câu đối với em khá giỏi) bao gồm những ý chính làm rõ cho câu chủ đề và nhất định phải có trong đoạn văn. Ở phần này, giáo viên phải giúp học sinh hiểu rằng một chiếc hamburger sẽ rất khó ăn nếu chỉ có bánh mì và thịt mà không có các gia vị khác như: rau diếp, hành, nước sốt,... Vì vậy, việc thêm vào những câu triển khai đoạn là rất cần thiết. Đặc biệt là những câu có sử dụng các từ ngữ giàu hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật sẽ khiến cho bài viết hay hơn, sinh động hơn hay cũng chính là làm cho chiếc bánh trở nên ngon hơn, hấp dẫn hơn. * Cuối cùng, để giữ cho những thành phần kết hợp với nhau, chiếc hamburger cần phải có một lớp bánh mì lót ở dưới. 12 Lớp bánh này trông có vẻ hơi giống lớp bánh trên cùng. Tuy nhiên, được úp ngược lại và nó chính là câu kết đoạn. Câu kết đoạn nên nhắc lại chủ đề của đoạn văn nhưng bằng những từ ngữ khác cô đọng được thông tin đã diễn giải và thể hiện tâm tư, cảm xúc của mình trong đó. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh nghĩ ra một câu kết tương tự như câu mở. Ví dụ: Kể về một người hàng xóm mà em quý mến. *Câu chủ đề: Cô Thu Hồng là người hàng xóm mà em rất yêu quý. *Câu kết thúc: Em rất biết ơn cô, em xem cô như người thân trong gia đình mình. Hoặc: *Câu chủ đề: Trong xóm, em quý mến nhất là bác Lan, tổ trưởng của khu phố em. *Câu kết thúc: Cả xóm em ai cũng yêu mến bác Lan vì bác là một người hàng xóm rất hiền lành và tốt bụng. Từ một đoạn văn có vẻ trừu tượng nhưng khi sử dụng hình thức đoạn văn Hamburger học sinh cảm thấy đơn giản hơn rất nhiều. Các em tích cực và hào hứng hơn trong giờ học. Ví dụ 1: Kể về gia đình của em với người bạn mới quen. 13 Một số hình ảnh học sinh thực hành viết đoạn văn Hamburger: Học sinh chia sẻ đoạn văn theo nhóm cộng tác Học sinh chia sẻ bài làm trước lớp Đoạn viết của học sinh Nhờ phương pháp minh họa đơn giản, tôi đã giúp cho một học sinh yếu cũng có thể viết một đoạn văn ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo tính mạch lạc về diễn đạt, hấp dẫn về nội dung. 3. 4. Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý Để học sinh có thể viết được những câu văn triển khai đoạn văn hay thì việc quan sát, chọn ý để viết là một điều mà học sinh thường gặp khó khăn. Học sinh chưa biết quan sát sự vật xung quanh cũng như tranh ảnh một cách rõ ràng, tỉ mỉ, chưa biết chọn lọc, sắp xếp các ý mà mình đã quan sát được theo trình tự thời gian, không gian bằng các giác quan của mình. 14 Học sinh thiếu sự tưởng tượng, ít cảm xúc về đối tượng trong đề tài. Không quan sát đúng theo yêu cầu. Do vậy, giáo viên cần hướng cho học sinh quan sát từng đường nét, màu sắc, hình ảnh, nội dung thể hiện của bức tranh, sự vật... Để làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên cần phải chuẩn bị tư liệu hình ảnh sắc nét, sống động. Đồng thời, chú trọng hướng dẫn các em cách lựa chọn, sử dụng từ ngữ, hình ảnh diễn đạt sao cho dễ hiểu, sinh động. Có như vậy, các em mới dễ hình dung, tưởng tượng, nắm bắt sự việc, nhất là tình cảm các em muốn thể hiện qua bài viết. Cùng với đó, giáo viên hướng dẫn học sinh cách tìm ý và cụ thể hóa các ý theo sơ đồ tư duy. Từ đó, các em có được một cái sườn bài đúng và đủ theo từng chủ đề. Ví du: Bài “Nói, viết về cảnh đẹp đất nước” Giáo viên chiếu tranh ảnh minh họa bãi biển Phan Thiết. Học sinh quan sát sự vật, theo dõi các sắc thái của sự vật, vận dụng từ ngữ để diễn đạt. Hình ảnh bãi biển Phan Thiết Hướng dẫn học sinh cách quan sát bằng mắt: nhìn từ xa đến gần, từ trên xuống dưới... Yêu cầu học sinh quan sát mọi sự vật hoặc một sự vật theo đề bài đã cho một cách cẩn thận rồi ghi lại các ý mà mình quan sát được. Để lập dàn ý cho bài làm của mình, tôi hướng dẫn học sinh tìm và viết theo hình thức sơ đồ tư duy. 15 Ví dụ sơ đồ tư duy sau khi quan sát bãi biển Phan Thiết Sơ đồ tư duy miêu tả cảnh biển Phan Thiết Sơ đồ tư duy của học sinh miêu tả cảnh biển Ví dụ: Bầu trời: “Nền trời - Triển khai ý, câu văn xanh thẳm, trong veo, không gợn hay: Sử dụng biện pháp một áng mây nào”. Hoặc “Bầu nhân hóa và hình ảnh so trời xanh trong, cao vời vợi”. sánh. Sau đó hướng dẫn Ví dụ: Bài cát, rặng dừa: “Bãi cát trắng tinh đón sóng vả các em vận dụng từ ngữ để gió biển. Cả ngày chị Gió trò diễn đạt cho người đọc chuyện rì rào với rặng dừa xanh hiểu và hình dung được còn anh Sóng biển thì mơn man, hình ảnh, sự vật., mà em vuốt ve bãi cát trắng.” đang kể. 16 Với hình thức này, các em được thoải mái sáng tạo sơ đồ của mình nên các rất hào hứng tham gia vào tiết học. Từ đó, viết được những đoạn văn hay và đúng yêu cầu của bài. Một số sơ đồ tư duy của học sinh Phương pháp này có thể giúp học sinh yếu viết được một đoạn văn dựa theo những gợi ý. Đối với những em khá giỏi thì bài văn sẽ phong phú về ý, sâu sắc về nội dung, chặt chẽ trong lập luận. 17 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Tôi đã áp dụng giải pháp trên vào quá trình giảng dạy thực tế tại lớp 3A2 (44 học sinh). Sau gần một năm học, tôi nhận thấy: + Trong mỗi giờ học Tập làm văn, học sinh học tập rất tích cực, hiệu quả. Các em nắm được nội dung kiến thức của bài học, biết phát huy tính sáng tạo, tích cực tham gia vào bài học. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập cho học sinh. Giờ học không trầm như trước mà trở nên sôi nổi hơn. + Nhờ xác định rõ nội dung cần viết, học sinh tìm từ, đặt câu thuận lợi. + Học sinh luyện viết với mẫu câu rộng hơn: câu đúng ngữ pháp, biết sử dụng biện pháp tu từ, so sánh, nhân hóa, câu giàu hình ảnh. + Học sinh biết dựa vào gợi ý để viết được bài văn theo đúng yêu cầu. + Điều đáng chú ý là học sinh bắt đầu hứng thú với việc sáng tác các câu văn hay với tiết tập làm văn, đây là một khởi sắc đáng mừng. Phụ huynh học sinh cũng rất vui mừng và phấn khởi vì sự tiến bộ của con mình. Tiến hành khảo sát các kĩ năng viết đoạn văn cuối năm học so với đầu năm tại lớp 3A2, tôi thu được kết quả như sau: 18 Từ kết quả trên, tôi có thể khẳng định rằng, biện pháp mà tôi đang áp dụng mang lại hiệu quả rõ rệt. Các em đã không còn viết văn theo kiểu trả lời câu hỏi nữa mà đã biết cách tư duy, sáng tạo, xây dựng cho mình một đoạn văn hay, trình bày mạch lạc. Ngoài ra, các em còn biết vận dụng các hình ảnh so sánh, nhân hóa để bài viết của mình sinh động hơn. Biện pháp này không những nâng cao chất lượng học tập của HS mà còn mở ra triển vọng tốt đẹp cho phương pháp dạy Tập làm văn nói riêng và dạy các môn học ở Tiểu học nói chung. 2. Ứng dụng Biện pháp này đã được tôi có thể áp dụng cho tất cả các lớp của khối 3 trong trường Tiểu học. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng biện pháp này trong những năm học tiếp theo và tư vấn cho đồng nghiệp của mình để cùng áp dụng. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận + Ý nghĩa của biện pháp: Hiện nay, việc đổi mới trong dạy và học đang là nhiệm vụ chung của toàn ngành giáo dục. Vì vậy, bản thân mỗi người giáo viên ngoài kiến thức vốn có thì rất cần sự tìm tòi, học hỏi, trau dồi nâng cao năng lực chuyên môn. Đồng thời, đưa ra được các biện pháp mới nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Biện pháp “Nâng cao năng lực tư duy, rèn kĩ năng viết đoạn văn hay cho học sinh lớp 3” giúp cho người giáo viên có thêm hình thức tổ chức dạy học hay và hiệu quả để áp dụng vào giảng dạy phân môn Tập làm văn. Từ đó, nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. Đối với học sinh, biện pháp này giúp các em học sinh tháo gỡ những khó khăn trong học tập. Các em cảm thấy hứng thú và yêu thích môn học hơn. Từ đó, các em học tập tốt hơn, đạt kết quả cao hơn. Bên cạnh đó, biện pháp cũng góp phần nâng cao khả năng sáng tạo của các em với thế giới xung quanh, giáo dục tình cảm thẩm mĩ, lòng yêu cái đẹp; khơi gợi 19 cho các em những tình cảm, xúc cảm, những ý nghĩ cao đẹp. Đây cũng là tiền đề để các em có khả năng tư duy ngôn ngữ và viết văn tốt ở lớp 4, lớp 5 và các bậc học sau này. + Bài học kinh nghiệm Để đạt được thành công trong dạy Tập làm văn thì trước hết chúng ta phải dạy thật tốt các phân môn của môn Tiếng Việt trên tinh thần đổi mới phương pháp theo hướng tiếp cận năng lực người học. Ngoài ra, muốn học sinh có năng lực tư duy, có kĩ năng viết đoạn văn tốt thì người giáo viên cần phải: + Nắm vững nội dung chương trình và thực tế của học sinh, nhà trường. + Nghiên cứu, chuẩn bị tốt kế hoạch bài dạy trước khi lên lớp. + Vận dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt trong giờ dạy. + Chú trọng rèn kĩ năng nói và viết cho cho học sinh trong những bài tập làm văn. + Chú trọng khâu chấm, chữa bài nói, bài viết của học sinh. + Quan tâm tới tất cả các đối tượng học sinh để có cách rèn kĩ năng viết đoạn văn khác nhau. + Luôn trân trọng và khuyến khích những sáng tạo của học sinh. + Thường xuyên động viên, khích lệ học sinh đọc và viết để nâng cao năng lực ngôn ngữ. 2. Kiến nghị + Đối với các cấp quản lí: Thường xuyên tổ chức tốt các buổi hội thảo, hội giảng, mời các chuyên gia đến chia sẻ các chuyên đề về dạy học Tập làm văn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học phân môn này ở Tiểu học. + Đối với giáo viên: Phải kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Cần nắm bắt rõ năng lực học tập của từng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu quả. Tự học và tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ của bản thân góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. 20 + Đối với học sinh: Các em học sinh phải thực hiện tốt nhiệm vụ của học sinh, tích cực học tập và rèn luyện, tăng cường tìm đọc sách, truyện để làm giàu thêm vốn từ vựng cho mình. Trên đây là biện pháp “ Nâng cao năng lực tư duy, rèn kĩ năng viết đoạn văn hay cho học sinh lớp 3 ” tôi đã nghiên cứu, áp dụng và bước đầu mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, biện pháp của tôi sẽ không tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của cấp trên và đồng nghiệp để biện pháp được hoàn thiện hơn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Tôi xin chân thành cảm ơn! TP Bắc Giang,ngày 12 tháng 10 năm 2022 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT Hoàng Thu Hương
Tài liệu đính kèm: